Duyệt theo Tác giả "Lê Hoàng An"
Đang hiển thị 1 - 6 của tổng số 6 kết quả
Số kết quả/trang
Tùy chọn sắp xếp
Tài liệu Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công các dự án giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Tây Ninh(2021-05) Trần Quang Phú; Lê Hoàng An; Phạm Thế HiểnHạ tầng giao thông đóng một vai trò quan trọng và cần thiết cho sự phát triển, xã hội và duy trì sự tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh các kết quả đạt được, tình trạng chậm tiến độ đối với các dự án giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Tây Ninh vẫn còn diễn ra phổ biến. Các nguyên nhân chậm tiến độ chủ yếu do: Công tác giải phóng mặt bằng; năng lực của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các nhà thầu; do bố trí vốn không kịp thời… Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công dự án giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Tây Ninh (TP.Tây Ninh). Bằng việc khảo sát 300 mẫu với đối tượng là các thành viên trong ban quản lý dự án, các nhà thầu, các trưởng tư vấn giám sát, các chỉ huy trưởng các công trình đã tham gia thi công các dự án giao thông đô thị trên địa bàn TP.Tây Ninh. Sử dụng phương pháp đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy bội với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng theo thứ tự quan trọng giảm dần: Năng lực các bên tham gia; năng lực chủ đầu tư; thẩm quyền chủ đầu tư; môi trường bên ngoài; thông tin và chính sách; nguồn vốn dự án.Tài liệu Dự báo tải trọng giới hạn của cột CFST sử dụng mạng nơ-ron nhân tạo(Giao thông vận tải, 2025) Lê Hoàng An; Vũ Hiếu PhươngCột ống thép nhồi bê tông (CFST) được ứng dụng phổ biến trong các công trình xây dựng trọng điểm nhờ vào khả năng chịu tải trọng lớn và độ bền cao. Tuy nhiên, việc thiết kế và tối ưu hóa cột CFST gặp nhiều thách thức, do các mối quan hệ phi tuyến phức tạp giữa các yếu tố như tải trọng, kích thước cột và tính chất vật liệu. Các phương pháp tính toán truyền thống thường hạn chế về độ chính xác trong dự đoán tải trọng giới hạn của cột. Do đó, nghiên cứu này áp dụng mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) để cải thiện quá trình dự báo tải trọng giới hạn của cột CFST. Kết quả cho thấy, mô hình ANN có khả năng dự đoán tốt và ổn định, giúp tối ưu hóa thiết kế cột CFST, từ đó, nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các tham số thiết kế.Tài liệu Mô phỏng ứng xử chịu nén đúng tâm của cột bê tông cường độ siêu cao UHSC nhồi ống thép(2022-05) Nguyễn Anh Tuấn; Lê Hoàng An; Phạm Đức Duy; Nguyễn Vy Thanh; Nguyễn Lâm ToànCột ống thép nhồi bê tông (Concrete filled steel tube - CFST columns) sử dụng bê tông cường độ siêu cao UHSC (Ultra-high strength concrete) là xu thế mới hiện nay trong các kết cấu xây dựng. Bài báo trình bày mô hình mô phỏng phần tử hữu hạn (Finite Element Method - FEM) sử dụng phần mềm ABAQUS để kiểm chứng một số thí nghiệm đã thực hiện trên cột tròn bê tông UHSC nhồi ống thép dưới tác dụng của lực nén đúng tâm. Các mô hình vật liệu của bê tông UHSC và ống thép được đề xuất để hiệu chỉnh mô hình vật liệu trong phần mềm ABAQUS. Kết quả của bài báo cho thấy mô hình FEM dự đoán khá tương đồng với kết quả đạt được từ thực nghiệm qua hình dạng phá hoại mẫu cho đến đường cong quan hệ lực - biến dạng. Mô hình FEM có thể dự đoán được sự phân bố tải trọng lên ống thép và bê tông theo từng giai đoạn gia tải.Tài liệu Mô phỏng ứng xử của cột vuông ống thép nhồi bê tông với các cường độ vật liệu bê tông khác nhau(Công trình này thuộc đề tài mã số KH2303 được tài trợ bởi Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh (UTH). Các tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hỗ trợ tài chính., 2025-01) Phạm Thanh Tuấn; Vũ Hiếu Phương; Phạm Đức Duy; Lê Hoàng AnCột ống thép nhồi bê tông (CFST) kết hợp các ưu điểm của thép và bê tông, tạo nên kết cấu có cường độ chịu lực và độ bền cao, từ đó, mang lại hiệu quả kinh tế cho các công trình xây dựng. Các nghiên cứu trước đây đã khám phá và nâng cao hiệu suất của CFST thông qua các phương pháp thử nghiệm và mô phỏng. Nghiên cứu này tập trung vào việc mô phỏng ứng xử của cột vuông ống thép nhồi bê tông bằng phương pháp phần tử hữu hạn (FEM), sử dụng phần tử khối và phần tử tấm để mô hình hóa lõi bê tông và vỏ thép tương ứng. Kết quả so sánh giữa dữ liệu thực nghiệm và mô phỏng FEM cho thấy sự tương đồng đáng kể, mặc dù, có khác biệt sau khi lực nén đạt đỉnh. Kết quả cho thấy việc tăng cường độ của lõi bê tông trong cột CFST ảnh hưởng lớn đến khả năng chịu tải của kết cấu. Những kết quả này cung cấp thông tin quan trọng để tối ưu hóa thiết kế và ứng dụng thực tiễn của CFST trong ngành xây dựng và hiểu rõ hơn về ứng xử của cột CFST.Tài liệu Thí nghiệm kéo trực tiếp xác định quan hệ giữa ứng suất kéo và độ mở rộng vết nứt của bê tông siêu tính năng cao(2023-01) Lê Hoàng AnNghiên cứu này thực hiện thí nghiệm chịu kéo trực tiếp của bê tông siêu tính năng cao không sợi (UHPC) và có sợi (UHPFRC). Mô hình đường cong lý tưởng biểu thị quan hệ giữa ứng suất kéo và độ mở rộng vết nứt của bê tông siêu tính năng cao được mô tả để dự đoán ứng xử kéo trực tiếp. Cấp phối thiết kế cho UHPC và UHPFRC có cường độ nén khoảng 200 MPa. Các mẫu hình lăng trụ kích thước 40 x 40 x 80 mm có khắc khấc 5 x 5 mm ở giữa mẫu được sử dụng cho thí nghiệm kéo trực tiếp. Dựa trên quan sát sự phá hoại mẫu và kết quả thí nghiệm đo được, UHPC phá hoại dòn với đường cong giảm tải dốc xuống đột ngột sau khi đạt ứng suất kéo cực đại, trong khi đó, UHPFRC phá hoại dẻo với ứng xử tăng cứng khi bắt đầu nứt và mềm hóa sau khi đạt ứng suất kéo cực đại. Độ mở rộng vết nứt của UHPFRC lớn hơn rất nhiều so với UHPC. Hàm lượng sợi thép tăng 1 - 2%, các giá trị ứng suất kéo khi nứt, ứng suất kéo cực đại và độ mở rộng vết nứt tương ứng tăng đáng kể. Phương pháp thí nghiệm kéo trực tiếp trong nghiên cứu này sử dụng các mẫu có kích thước nhỏ nên dễ áp dụng và giảm được chi phí thí nghiệm.Tài liệu Thí nghiệm đánh giá các đặc điểm cơ học của bê tông siêu tính năng UHPC và UHPFRC với việc sử dụng một số cốt liệu ở Việt Nam(2022-09) Lê Hoàng AnBài báo này trình bày kết quả thí nghiệm của một số đặc điểm cơ học thuộc bê tông siêu tính năng UHPC (Ultra high performance concrete) và UHPFRC (Ultra high performance fiber reinforced concrete) sử dụng các cốt liệu ở Việt Nam. Các thí nghiệm xác định cường độ chịu nén, mô đun đàn hồi tương ứng và cường độ ép chẻ được thực hiện trên mẫu hình trụ tròn 100 x 200 mm và cường độ chịu uốn ba điểm được thực hiện trên mẫu dầm 150 x 150 x 700 mm. Kết quả thí nghiệm cho thấy tăng hàm lượng sợi thép sẽ làm tăng đáng kể các giá trị cường độ nén, ép chẻ và chịu uốn, tuy nhiên không ảnh hưởng nhiều đến mô đun đàn hồi. Sợi thép có tác dụng hạn chế phá hoại dòn của mẫu và chuyển thành phá hoại dẻo. Hàm lượng sợi thép 2% cho các giá trị cường độ tăng nhiều nhất và mẫu phá hoại dẻo nhất. Ngoài ra bài báo còn so sánh các giá trị cường độ đạt được từ thí nghiệm trong nghiên cứu này với những kết quả thí nghiệm trong các nghiên cứu trước và các giá trị cường độ được quy định trong các tiêu chuẩn trên thế giới.