TC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI

Journal of Transportation Science and Technology under Ho Chi Minh City University of Transport was estalished in 2011 and launched online version in 2021. Journal of Transportation Science and Technology is a scientific journal in which domestic and international scientists and experts publish the latest research results. The Journal always commits to reviewing the articles in accordance with the international standards of a scientific journal. The Journal is annually published with 6 issues in English and Vietnamese in January, March, May, July, September, November under ISSN 1859-4263, e-ISSN

Duyệt

Những tài liệu tải lên gần đây

Đang hiển thị 1 - 20 của tổng số 63 kết quả
  • Tài liệu
    Nghiên cứu thực nghiệm xác định một số chỉ tiêu cường độ của cấp phối thiên nhiên gia cố xi măng kết hợp phụ gia Descobon500
    (2023-01) Nguyễn Văn Long; Nguyễn Quốc Dũng
    Việc sử dụng cấp phối thiên nhiên gia cố xi măng kết hợp phụ gia Descobon500 (DB500) làm các lớp móng đường sẽ góp phần giải quyết bài toán về khan hiếm nguồn vật liệu hiện nay. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong phòng xác định các chỉ tiêu cường độ của hỗn hợp cấp phối thiên nhiên gia cố xi măng kết hợp phụ gia DB500. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cường độ chịu nén và cường độ chịu ép chẻ của cấp phối thiên nhiên gia cố 8% xi măng có sử dụng phụ gia DB500 cao hơn mẫu không sử dụng DB500 (mẫu đối chứng) ở 14 ngày tuổi lần lượt là 24,85% và 20,40%, ở 28 ngày tuổi lần lượt là 18,17% và 17,64%. Ngoài ra, khi sử dụng phụ gia DB500, cường độ chịu nén và cường độ chịu ép chẻ của cấp phối thiên nhiên gia cố xi măng cũng phát triển nhanh hơn mẫu đối chứng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả kiến nghị sử dụng cấp phối thiên nhiên gia cố 8% xi măng kết hợp phụ gia DB500 với hàm lượng 3,78 lít/m3 hỗn hợp để làm lớp móng trên của tầng mặt bê tông nhựa và bê tông xi măng cho đường cấp II trở lên.
  • Tài liệu
    Dự báo khả năng kháng cắt của vách ngắn bê tông cốt thép chữ nhật sử dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo
    (2023-01) Phan Văn Tiến; Nguyễn Duy Duẩn
    Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng mô hình dựa trên mạng thần kinh nhân tạo (ANN) để dự báo khả năng kháng cắt của vách ngắn bê tông cốt thép (BTCT) tiết diện chữ nhật. Một bộ dữ liệu bao gồm 312 kết quả thí nghiệm từ các nghiên cứu trước đây đã công bố được sưu tập dùng cho việc phát triển mô hình ANN. Kết quả dự báo dựa trên mô hình ANN được so sánh với tám công thức trong các tiêu chuẩn thiết kế và các nghiên cứu điển hình đã công bố trước đây. Các tham số thống kê dùng để đánh giá mức độ chính xác của các mô hình bao gồm hệ số xác định (R2) và sai số quân phương (RMSE). Ngoài ra, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của tỷ số giữa giá trị dự báo và giá trị thí nghiệm cũng được đánh giá. Kết quả cho thấy rằng mô hình ANN vượt trội hơn nhiều trong việc dự báo khả năng kháng cắt của vách ngắn BTCT tiết diện chữ nhật so với các công thức đề xuất khác.
  • Tài liệu
    Thí nghiệm kéo trực tiếp xác định quan hệ giữa ứng suất kéo và độ mở rộng vết nứt của bê tông siêu tính năng cao
    (2023-01) Lê Hoàng An
    Nghiên cứu này thực hiện thí nghiệm chịu kéo trực tiếp của bê tông siêu tính năng cao không sợi (UHPC) và có sợi (UHPFRC). Mô hình đường cong lý tưởng biểu thị quan hệ giữa ứng suất kéo và độ mở rộng vết nứt của bê tông siêu tính năng cao được mô tả để dự đoán ứng xử kéo trực tiếp. Cấp phối thiết kế cho UHPC và UHPFRC có cường độ nén khoảng 200 MPa. Các mẫu hình lăng trụ kích thước 40 x 40 x 80 mm có khắc khấc 5 x 5 mm ở giữa mẫu được sử dụng cho thí nghiệm kéo trực tiếp. Dựa trên quan sát sự phá hoại mẫu và kết quả thí nghiệm đo được, UHPC phá hoại dòn với đường cong giảm tải dốc xuống đột ngột sau khi đạt ứng suất kéo cực đại, trong khi đó, UHPFRC phá hoại dẻo với ứng xử tăng cứng khi bắt đầu nứt và mềm hóa sau khi đạt ứng suất kéo cực đại. Độ mở rộng vết nứt của UHPFRC lớn hơn rất nhiều so với UHPC. Hàm lượng sợi thép tăng 1 - 2%, các giá trị ứng suất kéo khi nứt, ứng suất kéo cực đại và độ mở rộng vết nứt tương ứng tăng đáng kể. Phương pháp thí nghiệm kéo trực tiếp trong nghiên cứu này sử dụng các mẫu có kích thước nhỏ nên dễ áp dụng và giảm được chi phí thí nghiệm.
  • Tài liệu
    Assessing bridge stiffness decline using power spectral density: A case study on Saigon Bridge
    (2023-01) Nguyen Quang Thanh; Vu Ba Tu; Nguyen Anh Tuan; Nguyen Tien Thuy
    Bridges, especially civil infrastructure, serve a vital role in social activities. A damaged bridge can cause severe consequences such as traffic congestion, economic impacts, and loss of lives. Therefore, it is crucial for infrastructure management communities to detect and assess the condition of damaged bridges to ensure safety. To address this issue, in this study, the authors have put forth a novel set of parameters that can be used to evaluate the reduction in stiffness of spans over time. The stiffness is a critical factor that determines its structural integrity, and it is essential to monitor any changes in this parameter over the lifespan of the bridge. The proposed parameters take into account factors such as the age of the bridge, the material used in its construction, and environmental factors that may contribute to the degradation of the structure. They conducted experiments on a beam structure to evaluate its ability to monitor the reduction in bearing capacity of Saigon Bridge's spans using these parameters. To analyze the vibration signals from a randomized traffic load model, they utilized the power spectral density. The results of the study suggest a correlation between the frequency of harmonics and the high-frequency regions observed in the power spectral density and the decline in the stiffness of spans.
  • Tài liệu
    Nghiên cứu thực nghiệm phân tích ứng xử của liên kết bu lông của tấm panel bê tông cốt lưới dệt thành mỏng
    (2023-03) Đỗ Văn Linh; Vũ Văn Hiệp; Nguyễn Huy Cường
    Bê tông cốt lưới dệt (BTCLD) là loại vật liệu tính năng cao, kết hợp giữa bê tông hạt mịn và lưới sợi dệt cường độ cao. BTCLD là một giải pháp mới, rất hiệu quả để chế tạo các cấu kiện dạng thành mỏng, nhờ vào cường độ chịu kéo cao, khả năng chống nứt tốt, và có độ bền cao. Bài báo trình bày một số kết quả thực nghiệm để xác định ứng xử chịu lực của kết cấu BTCLD thành mỏng được liên kết bằng bu lông. Nghiên cứu được thực hiện trên ba loại liên kết, bao gồm: Liên kết chịu uốn, liên kết chịu cắt và liên kết nguyên mẫu panel. Ứng xử chịu lực của các liên kết được thực hiện với nhiều mô hình thí nghiệm khác nhau, nhằm đánh giá khả năng chịu lực cũng như dạng phá hoại của các liên kết. Trong đó, có 08 mẫu thí nghiệm dạng panel với kích thước đầy đủ được thực hiện nhằm xác định ứng xử của nguyên mẫu panel cũng như liên kết. Kết quả thí nghiệm giúp đánh giá sự làm việc của liên kết, nhằm ứng dụng vào việc thiết kế kết cấu BTCLD thành mỏng.
  • Tài liệu
    Nghiên cứu sử dụng tro trấu thay thế một phần xi măng trong bê tông làm đường giao thông nông thôn
    (2023-03) Nguyễn Văn Long; Phạm Hữu Hà
    Sử dụng tro trấu thay thế một phần xi măng trong sản xuất bê tông làm đường giao thông nông thôn là một giải pháp hiệu quả, giúp giải quyết các vấn đề môi trường và giảm giá thành bê tông trong xây dựng hiện nay. Bài báo trình bày kết quả thí nghiệm xác định cường độ chịu nén, cường độ chịu kéo uốn và mô đun đàn hồi của bê tông xi măng có sử dụng tro trấu. Kết quả thí nghiệm cho thấy, các chỉ tiêu cường độ của bê tông giảm khi hàm lượng tro trấu tăng. Khi thay thế xi măng bằng tro trấu với các hàm lượng 5%, 15%, 20% và 25%, cường độ chịu nén của bê tông giảm lần lượt 5,41%, 6,51%, 7,49% và 13,91%, cường độ chịu kéo uốn giảm lần lượt 0,47%, 1,18%, 2,61% và 4,98%, mô đun đàn hồi của bê tông giảm lần lượt 5,51%, 10,19%, 11,85% và 12,4% so với mẫu đối chứng. Tuy nhiên, tất cả các cấp phối bê tông đều đạt mác M300 và có cường độ chịu kéo uốn Rku > 4,0 MPa, do đó, phù hợp để làm tầng mặt cho tất cả các cấp đường giao thông nông thôn và đường có quy mô giao thông cấp nhẹ không có xe nặng với trục đơn >100kN lưu thông.
  • Tài liệu
    Assessing mechanical responses for damage detection in bridge spans through resonance region analysis
    (2023-03) Nguyen Quang Thanh; Vu Ba Tu; Nguyen Anh Tuan; Nguyen Tien Thuy
    This article introduces a new method for evaluating the mechanical behavior of structures to detect potential damages in bridge spans. The study enables us to monitor the stiffness degradation of bridge spans over time, operating under different working conditions. The proposed approach suggests monitoring the operational status of bridge spans at different measuring points, corresponding to different levels of applied load, measurement time, and environmental conditions according to the random theory. The study results demonstrate that changes in the area under the resonance regions of the power spectrum density can provide accurate information on the change in the structural behavior during operational periods. Furthermore, the research indicates that changes in the area under resonance regions can identify hazardous points on different spans of a bridge through different measuring points. Overall, in the future, this method can assist in identifying potential damages and warning of potential hazards to improve safety and reliability for people and vehicles crossing the bridge.
  • Tài liệu
    Mô phỏng tương tác dòng chảy sau vỡ đập với đáy hạ lưu phức tạp dùng mô hình Flow 3D
    (2023-03) Vũ Văn Nghi; Phạm Văn Khôi
    Tính toán mô phỏng dòng chảy sau vỡ đập được thực hiện phổ biến trên thế giới, nhất là trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng phức tạp và tác động khó lường tới tính mạng con người cũng như cơ sở hạ tầng. Bài báo trình bày tương tác dòng chảy sau vỡ đập với các trường hợp đáy nhám phức tạp sử dụng mô hình dòng chảy ba chiều Flow 3D. Mô hình giải tích và mô hình thí nghiệm vật lý được tiến hành cho trường hợp đáy phẳng không nhám để kiểm chuẩn kết quả từ mô hình Flow 3D. Hai trường hợp đáy nhám phức tạp, tương ứng là đáy nhám khối tam giác và khối hộp chữ nhật, được lựa chọn để thể hiện tương tác với dòng chảy sau vỡ đập. Với trường hợp đáy nhám có khối tam giác, mô hình số đã mô phỏng chính xác đặc trưng dòng chảy qua đáy nhám và chiều cao dòng chảy tràn qua đáy có khối tam giác. Với trường hợp đáy nhám có khối hộp chữ nhật, vận tốc dòng chảy trước và sau tương tác được mô phỏng khá phù hợp với kết quả thí nghiệm mô hình vật lý.
  • Tài liệu
    Ứng dụng thuật toán Fuzzy-PID trong việc phân tích và điều hướng cho xe hai bánh đồng trục tự cân bằng
    (2023-03) Đoàn Văn Đổng
    Xe hai bánh đồng trục là một đối tượng khó xác định được trọng tâm để giữ thăng bằng, khó khăn trong việc điều hướng và điều chỉnh tốc độ. Trong bài báo này, mô hình hoá hệ xe hai bánh đồng trục tự cân bằng và thiết kế thuật toán Fuzzy-PID đã được thực hiện. Thuật toán Fuzzy-PID được sử dụng để hiệu chỉnh hệ số với luật mờ thích hợp và được mô phỏng thông qua Matlab Simulink. Các kết quả mô phỏng đã chứng minh được tính ổn định cao của xe hai bánh đồng trục tự cân bằng.
  • Tài liệu
    Đánh giá khả năng chịu nén của cột bê tông cốt FRP theo các mô hình khác nhau
    (2023-03) Phan Văn Tiến; Nguyễn Duy Duẩn
    Thanh cốt sợi polymer (FRP) đang được ứng dụng thay thế cho cốt thép thường trong các cột bê tông (BT) cốt thép chịu tác động của môi trường ăn mòn. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá khả năng chịu nén của cột BT cốt FRP theo các mô hình khác nhau. Sáu công thức theo các tiêu chuẩn và nghiên cứu đã công bố được xem xét đánh giá. Bộ dữ liệu gồm 283 kết quả thí nghiệm được sưu tập để đánh giá hiệu quả của các công thức trên. Tiếp đó, một công thức dựa trên hồi quy đa biến được đề xuất để tính toán khả năng chịu nén của cột BT cốt FRP. Các tham số thống kê dùng để đánh giá mức độ chính xác của các mô hình bao gồm hệ số xác định và sai số quân phương. Ngoài ra, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của tỷ số giá trị dự báo và giá trị thí nghiệm cũng được đánh giá. Kết quả cho thấy rằng công thức tính toán khả năng chịu nén của cột BT cốt FRP đề xuất trong bài báo này có độ chính xác cao hơn nhiều so với các công thức công bố trước đây.
  • Tài liệu
    Quy hoạch hệ thống cảng hàng không ở Việt Nam – Góc nhìn từ xu hướng, tiềm năng phát triển ngành hàng không dân dụng và bài học kinh nghiệm trên thế giới
    (2023-03) Nguyễn Trọng Hiệp
    Quy hoạch hệ thống cảng hàng không (CHK) là một vấn đề quan trọng có ý nghĩa không chỉ về phát triển kinh tế còn có ý nghĩa về an ninh quốc phòng. Công trình cảng hàng không được xem là những công trình đặc biệt, do vậy các quyết định đầu tư vào các CHK sân bay (CHK-SB) thường gây tranh cãi. Việc lựa chọn vị trí xây dựng các CHK trong hệ thống CHK của mỗi quốc gia đều phải dựa trên các phương pháp khoa học và được nghiên cứu sâu, rộng nhiều vấn đề liên quan. Các CHK mới được đề xuất dựa trên những quan điểm khác nhau và thường không giống nhau. Bài báo tập trung nghiên cứu hai vấn đề: Thứ nhất, bài học và kinh nghiệm trên thế giới về vấn đề xây dựng mới sân bay trong hệ thống CHK; thứ hai, phân tích tiềm năng, xu hướng phát triển ngành hàng không dân dụng (HKDD), thực trạng về quy hoạch hệ thống CHK ở nước ta và những vấn đề cần quan tâm dưới góc nhìn khoa học.
  • Tài liệu
    Ảnh hưởng của hàm lượng hạt thoi dẹt đến cường độ chịu nén và ép chẻ của cấp phối đá dăm gia cố xi măng
    (2023-05) Nguyễn Văn Long; Nguyễn Quang Vinh
    Thực tế khai thác đường cho thấy, với những tuyến có các điều kiện khai thác bất lợi thì lớp móng cấp phối đá dăm (CPĐD) thường kém ổn định, không đáp ứng được yêu cầu về khả năng chịu lực và phân bố tải trọng xuống các lớp bên dưới, dẫn đến sự xuất hiện của các loại biến dạng và hư hỏng khác nhau trên mặt đường như lún vệt bánh xe, nứt, ổ gà. Sử dụng lớp móng CPĐD gia cố xi măng (GCXM) là một giải pháp hiệu quả giúp giải quyết vấn đề trên. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng hạt thoi dẹt đến cường độ chịu nén và cường độ chịu kéo khi ép chẻ của CPĐD GCXM 5%. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi hàm lượng hạt thoi dẹt tăng từ 14% lên 22%, cường độ chịu nén và chịu kéo khi ép chẻ ở 14 ngày tuổi của CPĐD GCXM 5% giảm tương ứng 36,54% và 31,02%. Hỗn hợp CPĐD GCXM 5% với hàm lượng hạt thoi dẹt từ trên 18% đến 22% như trong nghiên cứu vẫn đáp ứng yêu cầu về cường độ để làm lớp móng trên cho đường từ cấp III trở xuống.
  • Tài liệu
    Xác định sức kháng oằn cục bộ cột composite có khiếm khuyết về tính chất vật liệu bằng phân tích ổn định phi tuyến
    (2023-05) Nguyễn Tiến Thủy
    Vật liệu FRP sản xuất bằng phương pháp đúc kéo có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực xây dựng. Phương pháp đúc kéo với nhiều công đoạn khó kiểm soát, có thể gây ra các khiếm khuyết về tính chất vật liệu. Bài báo này đề xuất phương pháp xác định sức kháng mất ổn định cục bộ của cột composite tiết diện chữ I, trong trường hợp vật liệu trên các bản cánh và bản bụng là không đồng nhất. Nghiên cứu cho thấy tải trọng tới hạn gây oằn trong phân tích phi tuyến có giá trị lớn hơn 15.5% so với giá trị xác định bằng lời giải phương trình đặc trưng (phân tích nhiễu loạn tuyến tính). Ngoài ra sức kháng sau oằn của cấu kiện lớn hơn 66.4% so với tải trọng gây oằn tới hạn. Tác giả đề xuất phương pháp mô phỏng và xác định sức kháng này được áp dụng phổ biến cho vật liệu PFRP khi nghiên cứu về ổn định của cột hoặc dầm dưới các điều kiện tải trọng, điều kiện biên và với nhiều tổ hợp khiếm khuyết khác nhau.
  • Tài liệu
    Đánh giá khả năng mở rộng phần đường xe chạy cầu dầm hộp bê tông cốt thép nhịp lớn ở Việt Nam
    (2023-05) Hoàng Việt Hải; Phạm Đức Thọ
    Bài báo đánh giá khả năng mở rộng mặt cầu của cầu dầm hộp bê tông cốt thép dự ứng lực (BTCT DUL) từ 2 làn xe chạy thành 3 hoặc 4 làn xe. Phương án được sử dụng trong nghiên cứu là phương án sử dụng các thanh chống (SBWM). Phương án này đã được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 2003 trong việc nghiên cứu mở rộng dầm hộp BTCT DUL từ 2 làn đến 3 hay 4 làn. Phương pháp phần tử hữu hạn được sử dụng trong nghiên cứu nhằm đánh giá trạng thái ứng suất và võng của bản cánh dầm chủ trong trường hợp không hoặc có sử dụng thanh chống với 03 khoảng cách khác nhau lần lượt là 2 m, 3 m và 4 m. Kết quả mô phỏng cho thấy ứng suất kéo theo phương ngang cầu giảm 2,9 lần; độ võng giảm tương ứng 2,98 lần đối với trường hợp sử dụng thanh chống với khoảng cách các thanh là 4 m. Nghiên cứu góp phần bổ sung thêm phương án mở rộng cầu dầm hộp BTCT DUL trong tương lai.
  • Tài liệu
    Một số ứng dụng mô hình ANP (Analytic Network Process) trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng
    (2023-05) Huỳnh Yến Thảo; Vương Thị Thùy Dương
    Quản lý dự án là quá trình áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật để lên kế hoạch hành động nhằm đạt được các yêu cầu của dự án. Trong quá trình này, nhiều công cụ, kỹ thuật đã được sử dụng tương ứng với từng giai đoạn, công việc cụ thể. Trong đó, mô hình phân tích mạng ANP (Analytic Network Process) được xem là một công cụ định lượng hữu ích cho việc ra quyết định, có thể tính đến sự tương tác bên trong và bên ngoài của các yếu tố, tiêu chí, phương án trong mô hình. Dựa trên nền tảng lý thuyết ANP, nghiên cứu đã thiết lập các mô hình ứng dụng ANP trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng bao gồm (i) mô hình ANP nhằm đánh giá, lựa chọn nhà thầu; (ii) mô hình ANP nhằm xếp hạng thứ tự ưu tiên của các rủi ro; (iii) mô hình ANP nhằm đánh giá, lựa chọn các phương án thực hiện dự án. Các mô hình được thiết lập có ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng.
  • Tài liệu
    Nghiên cứu thực nghiệm một số tính chất cơ lý của vật liệu đất nện gia cố xi măng
    (2023-05) Nguyễn Tiến Dũng
    Đất nện là một vật liệu xây dựng “xanh” nhận được nhiều sự quan tâm trong thời gian gần đây. Bài báo này trình bày một số đặc tính cơ lý của vật liệu đất nện gia cố xi măng bao gồm: Cường độ chịu nén, mô đun đàn hồi và khối lượng thể tích. Đất nện được gia cố bằng xi măng poóc lăng hỗn hợp PCB40 với hàm lượng trong khoảng 4-10% (theo khối lượng của đất). Các kết quả thí nghiệm cho thấy khi tăng hàm lượng xi măng, các tính năng cơ học của đất nện được cải thiện. Với hàm lượng xi măng sử dụng từ 4 đến 10%, tương ứng khoảng 64-171 kg/m3 hỗn hợp đất nện, cường độ chịu nén của đất nện dao động trong khoảng 1 - 2 MPa, mô đun đàn hồi của đất nện dao động trong khoảng 182-427 MPa, khối lượng thể tích dao động trong khoảng 1720-1942 kg/m3. Mối tương quan giữa cường độ chịu nén với khối lượng thể tích và mô đun đàn hồi đã được tìm thấy thông qua các phương trình hồi quy thực nghiệm thu được.
  • Tài liệu
    Phương pháp trường pha phân tích hư hỏng kết cấu chứa hai pha vật liệu được đồng nhất hóa theo ba điều kiện biên
    (2023-05) Vũ Bá Thành; Nguyễn Xuân Lam
    Một cấu trúc chứa hai pha vật liệu với pha nền và pha cốt (lỗ rỗng) được đồng nhất hóa theo ba điều kiện biên: (i) Điều kiện biên đồng nhất động học (KUBC); (ii) điều kiện biên tuần hoàn (PEBC) và (iii) điều kiện biên đồng nhất tĩnh học (SUBC) để xác định các đặc trưng vật liệu tương đương sau khi đồng nhất hóa. Sau đó, phương pháp trường pha với điều kiện trực giao ten-xơ biến dạng được thiết lập cho cấu trúc tương đương sau khi đồng nhất hóa để mô phỏng hư hỏng cấu trúc này. Các kết quả mô phỏng số đạt được về đường nứt, đường cong ứng xử vật liệu và năng lượng gây nứt (công cơ học) của cấu trúc tương đương sau khi đồng nhất hóa và cấu trúc không đồng nhất ban đầu được so sánh để đánh giá điều kiện biên đồng nhất hóa phù hợp cho các loại cấu trúc này. Đồng thời, các kết quả này có thể làm rõ được ảnh hưởng của ba điều kiện biên đến hư hỏng cấu trúc được đồng nhất hóa.
  • Tài liệu
    Nghiên cứu các đặc trưng dao động nền do tàu cao tốc
    (2023-07) Phạm Ngọc Thạch
    Một đoàn tàu khi chạy với tốc độ cao sẽ sinh ra sóng lan truyền trong nền đất. Do sóng có biên độ rất nhỏ nên khó có thể nghiên cứu chúng bằng cách quan sát trực tiếp tại hiện trường. Một cách phù hợp để tiếp cận vấn đề nghiên cứu đó là sử dụng mô hình số. Bằng cách tiếp cận này, tác giả đã mô phỏng sóng trong nền đất do tàu cao tốc sinh ra, từ đó, khảo sát các đặc trưng dao động nền: Sự lan truyền sóng mặt; góc hợp bởi mặt sóng và hướng tàu chạy; chuyển vị mặt nền dọc theo chiều dài tàu; ảnh hưởng của vận tốc tàu đến dao động nền.
  • Tài liệu
    Nghiên cứu, kiến nghị mô hình phát triển cảng trung chuyển quốc tế tại khu bến Cái Mép, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    (2023-07) Lê Văn Thức
    Toàn cầu hóa đã thay đổi phương thức tổ chức khai thác cảng và hướng các quốc gia có cảng biển nước sâu phải nỗ lực tận dụng lợi thế địa lý để phục vụ các dòng chảy thương mại và hưởng lợi từ hoạt động cung ứng dịch vụ, hậu cần thông qua việc hình thành cảng trung chuyển quốc tế và là “mắt xích” quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Không nằm ngoài xu thế đó, khu bến cảng Cái Mép được lựa chọn quy hoạch phát triển là cảng trung chuyển quốc tế theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua khu bến cảng Cái Mép chủ yếu chỉ khai thác hàng xuất, nhập khẩu của Việt Nam và sản lượng hàng trung chuyển chỉ chiếm tỷ trọng trên 4% so với tổng sản lượng hàng qua cảng, kém xa tỷ lệ hàng trung chuyển qua các cảng trung chuyển quốc tế trên thế giới (khoảng 30-40%). Mục đích bài báo nhằm đánh giá vướng mắc và nghiên cứu mô hình phát triển phù hợp cho khu bến cảng Cái Mép, qua đó kiến nghị cơ chế, chính sách “đột phá” để hỗ trợ việc hình thành và phát triển cảng trung chuyển quốc tế Cái Mép.
  • Tài liệu
    Mô hình hồi quy dự báo dài hạn lượng hàng container qua cảng – Nghiên cứu dự báo lượng hàng container qua cảng Đồng Nai đến năm 2050
    (2023-07) Bùi Thị Thùy Duyên; Trần Thị Ngọc Hà
    Dự báo lượng hàng qua cảng không chỉ có ý nghĩa trong việc quản lý khai thác cảng, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong quy hoạch hạ tầng liên quan. Những năm gần đây, vận chuyển đường biển bằng container ngày càng được quan tâm, vì vậy, dự báo lượng hàng container qua cảng cũng thu hút sự nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Bài báo nghiên cứu mô hình hồi quy dự báo lượng hàng container qua cảng dài hạn, áp dụng cho cảng Đồng Nai, làm cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý. Nghiên cứu đã thiết lập mối tương quan giữa các chỉ tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế giai đoạn 2010-2020 như tổng sản phẩm của địa phương, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, giá trị công nghiệp, nông nghiệp, vốn đầu tư trong và ngoài nước với lượng hàng container qua cảng, để xây dựng mô hình dự báo. Kiểm định mô hình dự báo với số liệu năm 2021 và lựa chọn mô hình phù hợp dự báo lượng hàng container qua cảng Đồng Nai đến năm 2050.
Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh